Ngày cuối cùng của Chúa Giêsu
NGÀY CUỐI CÙNG CỦA CHÚA GIÊSU
Tác giả: Gerhard Lohfink
Chuyển ngữ: Lm. Antôn Bùi Kim
Phong
Từ sách: JESUS OF NAZARETH, What He Wanted, Who
He was, Minesota: Liturgical Press, 2012, tt. 269-287)
WGPQN (21.03.2021) - Không thể
viết về cuộc đời của Chúa Giêsu với những sự kiện đầy đủ và kết nối với nhau
như cần phải có để viết tiểu sử. Các Tin Mừng không cung cấp cho chúng ta những
dữ kiện đầy đủ - trừ một trường hợp ngoại lệ, đó là trình thuật về ngày cuối
cùng của Chúa Giêsu. Câu chuyện này nên được dựng lại một cách chính xác trên nền
tảng của trình thuật về cuộc thương khó của Tin Mừng Marcô. Đàng sau Tin Mừng
Marcô chương 14-15 (Bài Thương Khó, Chúa Nhật Lễ Lá năm B) phải là những truyền
thống xa xưa, được cẩn thận truyền lại, và đàng sau những truyền thống này là
ký ức của những chứng nhân tận mắt các biến cố, bởi vì hai chương này cho thấy
một loạt những sự kiện liên kết với nhau và tường trình một số chi tiết cụ thể
nhiều khác thường.
Chỉ nhìn vào con số đông đảo tên các nhân vật trong trình thuật thương khó của
Marcô cũng cho thấy điều đó: ông Simon từng mắc bệnh phong, Giuđa Iscariô,
Phêrô, Giacôbê, Gioan, Philatô, Baraba, Simôn thành Xyrênê, Alexandrô, Rufus,
Maria Mađalêna, Maria mẹ Giacôbê Thứ, Maria mẹ Gioset, bà Salômê, Giuse
Arimathia. Đàng khác, Marcô không nêu tên vị thượng tế đương nhiệm. Matthêô và
Luca thấy thiếu sót này và sửa lại. Khác với Marcô, họ nêu tên thượng tế tên là
Caipha (Mt 26,3; Lc 3,2; xem Ga 11,49). Điều đó là bằng chứng có thể nói lên
trình thuật thương khó của Marcô là rất cổ xưa. Học giả Kinh Thánh Rudolf Pesch
cho rằng giống như nếu có ai kể chuyện về hôm nay họ sẽ quy chiếu vào vị tổng
thống đương nhiệm, chứ không vào vị tiền nhiệm.[1] Cũng
thế, câu chuyện cuộc thương khó tiền-Marcô nói về vị thượng tế. Vậy họ có
trở về thời Caipha vẫn còn đương nhiệm không? Ông ta làm thượng tế từ năm
18 đến 37 sau Công Nguyên.
1. Giếtsêmani
Vào thời đó, tiệc Vượt Qua kết thúc bằng việc hát một ít Hallel, là thánh vịnh 114(115) – 118.
Marcô kể rằng Chúa Giêsu và các môn đệ lên núi Cây Dầu sau khi hát thánh vịnh
(14,26). Dù đây chỉ là một chi tiết nhỏ, thường bị bỏ qua, nhưng chứng tỏ rằng
Chúa đã cử hành tiệc Vượt Qua.
Ở một nơi gọi là Giếtsêmani, dưới chân núi Cây Dầu, Chúa Giêsu ngập tràn lo sợ:
“và Ngài bắt đầu kinh sợ và buồn sầu” (Mc 14,33). Chúa Giêsu thấy cái chết đến
gần, ngài tranh đấu với Chúa Cha trong nguyện cầu: “Lạy Cha, Cha có thể làm được mọi sự, xin cất chén này khỏi con! Nhưng
không theo ý con muốn, một theo ý Cha” (14,16). Một mặt, lời kinh này nói
lên sự tín thác sâu xa của Chúa Giêsu vào Cha ngài: tiếng thưa Abba (Cha ơi!), trong ngôn ngữ
Aram, không thấy được dùng trong kinh nguyện của đạo Do Thái đương thời. Đó là
lối diễn tả sự tín thác và yêu thương của trẻ con, nhưng cũng của cả con trai
con gái đã trưởng thành, vào cha mình.[2] Theo
bản văn thì Chúa Giêsu cầu nguyện với sự tín thác như con trẻ. Nhưng mặt khác,
ngài đấu tranh với Chúa Cha, vì ngài dùng ngôn ngữ kinh thánh khi nói đến
“chén” Cha trao. Đó là chén phẫn nộ và u sầu[3],
trong trường hợp này là chén của cái chết. Rõ ràng là Chúa xin cho mình khỏi chết.
Chúng ta không dám xem nhẹ cũng như không thể tát cạn ý nghĩa của việc này.
Theo trình thuật, Chúa Giêsu rất sợ hãi. Đàng khác, ngài đặt trọn vẹn cuộc sống
vào tay Cha ngài. Có lẽ việc sợ hãi và đau đớn là do những phần tử đáng tin cậy
nhất của nhóm Mười Hai – Phêrô, Gioan, Giacôbê - để ngài một mình trong cơn khủng
hoảng. Họ không hiểu. Họ mê ngủ.
Rõ ràng là câu chuyện cuộc thương khó đã khéo léo nối kết hai yếu tố: một mặt
là hồi ức chính xác về những gì đã xảy ra ở Giếtsêmani, mặt khác là giải thích
thần học về biến cố với sự trợ giúp của ngôn ngữ kinh thánh. Sự liên kết này
luôn hiện diện trong câu chuyện về cuộc thương khó. Sự giải thích tinh tế về chừng
mực nào là ngôn ngữ thánh vịnh và chừng mực nào là thần học về “người công
chính chịu đau khổ” trong trình thuật thương khó, chứng tỏ đây không phải là những
biến cố được giáo hội tiên khởi tự sáng chế ra dựa trên nền tảng Cựu Ước. Hiện
tượng phải được giải thích khác: câu chuyện thương khó kể về những sự kiện có
thật, dùng ngôn ngữ kinh thánh,
để minh chứng rằng những gì đang xảy ra ở đây là lịch sử giữa Chúa và dân của
ngài, như vẫn luôn được lập đi lập lại, trong lịch sử Israel.
Cũng cần xác nhận một điều khác nữa: Cảnh ở Giếtsêmani khác về căn bản so với
những mô tả về sau này về các cuộc tử đạo của các Kitô hữu tiên khởi. Các mô tả
này không có kiểu thức (motif) cám dỗ hay tranh đấu dằn vặt trong cầu nguyện.
Chúng ta đừng quên Celsius, triết gia và là người phê bình Kitô giáo, đã chế giễu
nỗi sợ chết của Chúa Giêsu; hoàng đế Giulianô “bội giáo” đã thấy hành vi của
Chúa Giêsu “đáng thương hại”.[4] Đối
với cái nhìn thời cổ đại, người anh hùng phải hành xử khác. Nhưng đối với các
tác giả Cựu Ước và Tân Ước thì ngược lại: lối mô tả những khủng hoảng hiện sinh
như thế không những có thể[5] mà
còn thích hợp: Người công chính trong Israel đã chịu đau khổ thế nào, Chúa
Giêsu đã chịu đau khổ làm sao.
2. Bị bắt
Ngay sau khi Chúa cầu nguyện với những đấu tranh dằn vặt, một toán quân võ
trang đến bắt ngài. Không có lý do để cho rằng cảnh Chúa Giêsu bị bắt, như
Marcô thuật lại, không phải là câu chuyện lịch sử. Cách đặc biệt về nụ hôn của
Giuđa, thường được các học giả phê bình coi là kiểu của trình thuật huyền thoại.
Để phản bác điều này chúng ta phải nói rằng việc bắt bớ này xảy ra trong đêm.
Sau khi đã thất bại nhiều lần, như trong trình thuật của Gioan (Ga 7,30.32.44;
10,39) các người chống đối Chúa muốn lần này phải bắt được ngài. Việc không bắt
Chúa vào ban ngày nhưng vào giữa đêm là vì họ lo lắng có nhiều người Galilê
hành hương ở Giêrusalem trong thời gian đó. Đêm lễ Vượt qua là cơ hội thích hợp
nhất để bắt Chúa mà không ai thấy. Marcô viết: “Ngay lúc đó, khi Người còn đang nói, thì Giuđa, một người trong Nhóm Mười
Hai, xuất hiện. Cùng đi với hắn, có một đám đông mang gươm giáo gậy gộc. Họ được
các thượng tế, kinh sư và kỳ mục sai đến” (Mc 14,43). Có vẻ như đây là một
đội võ trang không chuẩn bị trước, nếu không nói là một nhóm được thuê để chống
lại Chúa Giêsu. Các dịch giả kinh thánh tốt hơn nên dịch là “gậy tuần đêm
(nightsticks)” thay vì “dùi cui (clubs)”. Đó là điều Marcô muốn, và dịch như thế
để làm rõ đây là một đội cảnh vệ.
Ngoài đội canh giữ đền thờ thường xuyên, Thượng Hội Đồng Do Thái (Sanhedrin)
còn có một đội cảnh vệ đông hơn để giữ trật tự cần thiết, để bắt bớ, và để canh
gác tù nhân. Điều này cũng làm cho rõ đây là lệnh bắt chính thức do Hội Đồng
đưa ra theo như trật tự bình thường của sự việc. Họ sai một số đông những người
có võ trang đến vì họ biết có một số các môn đệ đang ở với Chúa lúc đó. Cũng có
thể toán lính này còn được bổ sung thêm các đầy tớ của các gia đình thượng tế
Anna và Caipha (x. Mc 14,47).
Các môn đệ kinh ngạc vì Chúa bị bắt bất ngờ như thế. Họ bỏ ngài và trốn hết.
Phêrô cố gắng ở lại gần với các biến cố tiếp theo. Ông nán lại một lúc trong
sân nhà ông Anna[6], nơi ông chối Chúa, và rồi
biến mất khỏi quang cảnh đó – theo như tường thuật của Marcô.
3. Tại nhà Anna
Chúa Giêsu bị điệu vào thành qua thung lũng Xêrong. Theo trình thuật của Tin Mừng
Marcô, Chúa bị đưa ngay đến nhà vị thượng tế đương nhiệm (Caipha), nơi Thượng Hội
Đồng Do Thái đang nhóm họp trong đêm để xét xử (Mc 14, 53). Tin Mừng Gioan thì
tường thuật khác. Theo tin mừng thứ tư, trước tiên Chúa bị điệu đến nhà nguyện
thượng tế, Anna (nhạc phụ của Caipha), để ông thẩm vấn, sau đó mới đưa đến nhà
vị thượng tế đương nhiệm là Caipha (Ga 18,12-24). Tin Mừng thứ tư không tường
trình gì hơn về một phiên họp của hội đồng, điều đó cũng gián tiếp cho thấy việc
Chúa bị điệu đến nhà Caipha (Ga 18,24).
Rất có thể Chúa bị điệu đến Thương Hội Đồng Do Thái mà không phải qua cuộc tra
vấn, hay ít ra là cố gắng để biết ngài khai gì, trước phiên họp của hội đồng.
Anna là vị thượng tế tiền nhiệm đầy kinh nghiệm, có thể đã đóng vai trò quan trọng
trong việc này. Có lẽ cuộc thẩm vấn sơ khởi xảy ra trong khi chờ các thành viên
của Thượng Hội Đồng có mặt đông đủ.[7] Nhưng
đó không là vấn đề. Có lẽ họ đã được thông tin trước rồi. Dù sao Thượng Hội Đồng
cũng được nhóm họp trong đêm thứ Năm.
4. Trước Thượng Hội Đồng Do thái
(Sanhedrin)
Phiên họp vào ban đêm là bất thường. Điều này thường gây bàn cãi vì, theo hướng
dẫn của Mishnah (xem m.Sanh.IV), đối
với những vụ án liên quan đến án tử, Thượng Hội Đồng không được họp vào ban
đêm. Những người chống lại lý luận này cho rằng Mishnah chỉ được biên tập lại
khoảng năm 200 sau Công Nguyên do Rabbi Yehuda Hanasi và trong nhiều khía cạnh
nó là lý thuyết trừu tượng về luật. Những chỉ dẫn về luật hình sự của nó có lẽ
không đóng vai trò nào trong cuộc xử án Chúa Giêsu. Ngài bị xử án theo Cựu Ước
và hình luật của nhóm Sađốc, và chúng ta không biết về luật này, ngoại trừ quy
định của Cựu Ước về tố tụng hình sự. Nhưng Cựu Ước không cấm xử án vào ban đêm.[8]
Hơn nữa, Thượng Hội Đồng Do Thái còn bị thời gian lễ Vượt Qua thúc bách. Nếu
theo thời biểu của các Tin mừng Nhất lãm thì Chúa Giêsu chết vào ngày 15 tháng
Nisan, tức là vào chính ngày lễ Vượt Qua. Bằng mọi giá họ tránh một phiên toà
sau ngày lễ Vượt Qua. Thượng Hội Đồng ở thế bị thúc ép về thời gian vì Chúa bị
bắt trễ quá. Có lẽ không có vấn đề phải bàn cãi về quan điểm của các quan chức
Do thái trước việc phải đợi đến sau lễ và ngày Sabát kế đó. Việc Chúa Giêsu bị
bắt không thể giữ kín mãi, và họ sợ rằng những người có cảm tình với Chúa trong
dân có thể tụ họp lại. Vì thế, Thượng Hội Đồng phải hành động nhanh chóng và
quyết đoán, triệu tập phiên xử trong đêm. Marcô 14,53 viết: “Họ điệu Đức Giêsu đến vị thượng tế. Các thượng
tế, kỳ mục và kinh sư tề tựu đông đủ”.
Marcô nêu tên ba nhóm người họp thành Thượng Hội Đồng. Nhóm thứ nhất gồm vị thượng
tế đương nhiệm và những người giữ các vị trí quan trọng trong đền thờ cũng như
những thượng tế không còn tại vị. Nhóm thứ hai gồm các kỳ lão, những người thuộc
các gia đình thường dân có thế lực nhất trong dân. Cả hai nhóm này chủ yếu theo
khuynh hướng của phái Sađốc. Nhóm thứ ba của Thượng Hội Đồng gồm các kinh sư,
nhóm này là những người đại diện chủ yếu của phái Pharisiêu. Tuy nhiên, Hội mà
Marcô gọi là Thượng Hội Đồng (Sanhedrin), không phải là tòa án tối cao cho toàn
Israel mà sách Mishnah mô tả sau này, mang tính cách lý thuyết về luật pháp hơn
là thực hành; đúng hơn, đó là một nhóm mà thượng tế quy tụ quanh ông để đưa ra
những quyết định quan trọng. Nói cho cùng, đó là công cụ của phe nhóm Anna dùng
để vận dụng quyền lực.
Chỉ có một cái tên trong những người tham gia được biết một cách chắc chắn đó
là Caipha. Ông phải là một nhà ngoại giao khôn khéo và một nhà chính trị rất thực
dụng, vì ông thành công trong việc xoay xở thế nào để tại vị trong gần hai mươi
năm, từ năm 18-37 sau Công nguyên. Không có vị thượng tế nào trong thế kỷ thứ
nhất được tại vị lâu như thế. Caipha không thể tồn tại lâu như thế nếu không có
một phe nhóm quyền lực đứng đàng sau và chấp nhận một vị thế uyển chuyển đối với
các viên toàn quyền Rôma. Caipha là người chủ trì phiên họp đêm đó của
Thượng Hội Đồng.
Marcô tường thuật rằng các nhân chứng xuất hiện chống lại Chúa Giêsu tại phiên
toà này tương ứng chính xác với luật xét xử của Cựu ước và của người Do thái.[9] Tương
phản với luật Rôma, chỉ tập trung vào việc xét bị cáo, tiến trình tố tụng của
người Do thái dựa trên những nhân chứng chống đối hay ủng hộ; chứng nhân chống
đối đóng vai trò như biện lý. Những tuyên bố của của nhân chứng phải phù hợp
trong từng chi tiết; bằng không, chúng không thích hợp cho tiến trình xét xử.
Điều quan trọng cần hỏi là những lời tố cáo nào được đưa ra để chống lại Chúa
Giêsu. Một vài điều cho rằng ngài đã “dẫn
dân đi lầm đường lạc lối”. Như lời tố cáo từng được đưa ra chống lại ngài
trong quá khứ (xem Ga 7,12), cũng như xuất hiện trong một số tài liệu của người
Do thái sau khi ngài chết. Sách Talmud Babylon viết: “(Chúa Giêsu) thực hành ma
thuật và dẫn dân Ítrael đi lầm đường lạc lối” (Sotah 47a). Tội dẫn dân đi lạc lối cũng gồm cả những việc như
không tôn trọng lề luật và hành động chống lại đền thờ. Đặc biệt hành vi tại đền
thờ của Chúa đóng vai trò quan trọng cho lời tố cáo này. Dân ở Giêrusalem rất dị
ứng với bất cứ hành vi thù nghịch nào với đền thờ. Điều đó bảo đảm đền thờ mang
ý nghĩa chính của thành phố như là trung tâm hành hương và là nguồn thu nhập
cho dân chúng, đặc biệt cho giới quý tộc địa phương, là nhóm tùy thuộc vào những
cuộc hành hương. Theo trình thuật của Marcô, những phát biểu của Chúa Giêsu về
đền thờ đóng vai trò quan trọng khởi đầu trong việc xử án. Nhưng rõ ràng là
không dễ cho Thượng Hội Đồng kết án Chúa Giêsu với một hành vi xét xử nhanh gọn
dựa trên những gì ngài đã nói về đền thờ. Những lời tố cáo của các chứng nhân
không ăn khớp với nhau, và cuộc xử án đi đến chỗ bế tắc.
5. Đấng Thiên Sai (Messiah) và Con Người
Trước tình trạng trên, Caipha phải chuyển qua một phân đoạn khác trong cuộc xử
án, vì các chứng từ không ăn khớp với nhau, và toà án thiếu bằng chứng. Điều đó
khiến vị thượng tế phải đi thêm một bước để đưa ra quyết định. Caipha hỏi Chúa
Giêsu: "Ông có phải là Đấng Kitô
(Messiah), Con Thiên Chúa đáng chúc tụng chăng?" (Mc 14,61). Không có
lý do gì để không tin là thượng tế đã hỏi câu hỏi đó. Nó có nhiều ý nghĩa và hợp
lý. Nó phản ánh nhiều ý kiến và tin đồn đã được lan truyền từ lâu về Chúa
Giêsu. Cách đặc biệt, việc ngài vào thành gây ấn tượng sâu sắc là yếu tố mới
cho việc đánh giá về con người này. Hơn nữa, câu hỏi của Caipha theo sau câu hỏi
về hành vi trong đền thờ vốn đã là chủ đề được thẩm vấn, vì hành vi đó mang
tính cách của sự thống trị và thiên sai (messianic). Vì thế, Caipha một lần nữa
điều tra về thẩm quyền của Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu đã bị một nhóm được Hội Đồng sai đến tra vấn về thẩm quyền của ngài
ngay sau những hành vi ngài thực hiện trong đền thờ. Ngài không trả lời, thay
vào đó ngài đặt câu hỏi ngược lại: "Tôi
chỉ xin hỏi các ông một điều thôi. Các ông trả lời đi, rồi tôi sẽ nói cho các
ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy. Vậy, phép rửa của ông Gioan là
do Trời hay do người ta? Các ông trả lời cho tôi đi!" (Mc 11,29-30).
Câu hỏi lại của Chúa Giêsu dựa trên việc cho rằng việc tuyên xưng công khai
không phải lúc nào cũng thích hợp. Việc nhóm được Thượng Hội Đồng sai tới bỏ
qua câu hỏi và không đưa ra quan điểm của mình cho thấy việc Chúa không trả lời
trước đó được biện minh.
Bây giờ Chúa lại bị hỏi một lần nữa về thẩm quyền của mình, nhưng trong một trạng
huống mới và khác biệt. Lúc này ngài đang đứng trước Thượng Hội Đồng, trước vị
thượng tế, đại diện cho Israel. Tính chất chung quyết của khoảnh khắc này là rất
rõ ràng cho Chúa Giêsu. Vì thế, ngài trả lời trực tiếp, đối với câu hỏi ngài có
phải là đấng Thiên sai không, ngài tuyên xưng: “Phải, chính ta”.
Đương nhiên là người đọc tin mừng thắc mắc sao Chúa có thể chấp nhận trước mặt
Thượng Hội Đồng một tước hiệu về thẩm quyền hết sức bí ẩn, có thể là mục tiêu của
những hiểu lầm về chính trị, là tước hiệu ngài đã tránh từ lâu trước mặt công
chúng và thậm chí cấm các môn đệ dùng nó công khai,[10] và
ngài chỉ gợi ý cách biểu tượng qua việc đi vào thành và những hành vi tại đền
thờ. Câu trả lời chỉ có thể như thế lúc này, trước sự hiện diện của thẩm quyền
cao nhất của Israel, giờ đã đến để nói lên công khai. Bây giờ phải chấp nhận có
thể bị hiểu lầm hay cố ý giải thích sai lạc. Dù sao Chúa Giêsu tránh né những lối
giải thích chính trị việc ngài vào thành qua việc cưỡi một con lừa, và bây giờ
trước mặt Caipha ngài cảnh giác trước mọi quan điểm sai lạc về tính cách thiên
sai của ngài. Như thế Chúa không hài lòng khi chỉ nói “Phải, chính ta”. Việc phân định lập tức tước vị Đấng Thiên Sai là
thuyết phục và khẩn thiết: “Rồi các ông
‘sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng’ và ‘ngự giá mây trời mà đến’".
(Mc 14,62).
Việc Marcô và truyền thống của ngài lập lại từng chữ những gì Chúa Giêsu nói
lúc đó, là kết nối giữa thánh vịnh 110,1 và Đn 7,13, vẫn còn là một câu hỏi mở.
Dù sao, chắc chắn là Chúa Giêsu nói rõ về quyền bính của ngài trước mặt Caipha
– là thẩm quyền luôn được ẩn dấu trong lời nói và hành động, thẩm quyền vượt
quá mọi lối hiểu thiển cận về Đấng Thiên Sai. Cũng vì mục đích này, lối nói
“Con Người” từ Đn 7 là rất thích hợp, vì một mặt Con Người được trao cho: “quyền thống trị, vinh quang và vương vị;
muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền
thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một; vương quốc của
Người sẽ chẳng hề suy vong”. (Đn 7,14). Mặt khác Con Người này, đại diện
cho xã hội con người rốt cùng, có nghĩa là chấm dứt mọi sự thống trị bằng sức mạnh
và bạo lực.
Chúa Giêsu đã công khai dùng tước vị Con Người nhiều lần trong cuộc đời rao giảng
của ngài.[11] Ngài dùng nó để nói
lên sự thấp hèn của ngài – Con Người là sự kết thúc của tất cả mọi xã hội tạo lập
bởi sức mạnh và bạo lực – nhưng ngài cũng có thể qua đó khai triển uy quyền
cánh chung của ngài, sẽ được trao cho ngài khi sự thống trị của Thiên Chúa viên
mãn. Cả hai - sự thấp hèn và sự thống trị - dưới con mắt của Chúa Giêsu không
tương phản nhau. Như thế Con Người trong Đaniel 7 là một cá vị tập hợp, và
không tạo nên vấn nạn nào vào thời đó. Chúa Giêsu thấy mình là hiện thân, là đại
diện cho tập hợp đó, tức là Israel cánh chung.
Như thế, khi Chúa Giêsu nói về mình trước Hội Đồng là Con Người phải đến ngài
cũng sửa lại quan điểm sai lầm về Đấng Thiên Sai: Ngài nhấn mạnh đến tính cách
bất bạo động của mình. Nhưng cùng lúc Ngài mạc khải sự thống trị của mình. Với
quyền uy thống trị được Thiên Chúa trao ban này, ngài sẽ trở thành thẩm phán
xét xử Thượng Hội Đồng và toàn dân Israel. Không phải ngài bị xử án, nhưng
chính Thượng Hội Đồng đang là bị cáo, và Chúa Giêsu buộc họ đối diện với giây
phút quyết định.
Tuy nhiên, Caipha hiểu rằng Chúa Giêsu đã định hướng những gì ngài nói. Hai con
đường mở ra cho ông: tin vào những gì Chúa Giêsu khẳng định về sự thống trị hay
cho rằng chính tai ông đã nghe lời lộng ngôn kinh khủng chống lại Thiên Chúa.
Quyết định của vị thượng tế là đã rõ. Theo ông, tuyên xưng rằng Chúa Giêsu sẽ sớm
ngự bên hữu của Thiên Chúa như vị thẩm phán là một sự ngạo mạn đầy lộng ngôn và
đáng đáng trừng phạt. Bây giờ cuối cùng các nhân chứng cũng đã chứng minh điều
từ lâu nghi ngờ: Chúa Giêsu là ngôn sứ giả hiệu, một tên lộng ngôn, một người dẫn
dân Israel đi lầm đường lạc lối.
Vì thế, Caipha làm ngay điều mà Lề Luật đòi một người bị buộc phải nghe những lời
lộng ngôn: xé áo mình ra,[12] và
chỉ cách mà Lề Luật đã quy định đối với ngôn sứ giả là phải chịu tội chết.
Israel phải trừ khử những sự xấu xa ra khỏi mình (Đnl 13,2-6). Mọi người trong
Hội Đồng đồng ý với quyết định của Caipha: “Tất
cả đều kết án Người đáng chết” (Mc 14,65). Vào lúc này Marcô mô tả hai cảnh
tượng: đầu tiên, rất ngắn và cô đọng, là cảnh chế nhạo và ngược đãi Chúa sau lời
kết án của Caipha (Mc 14, 65), kế đến, trong một trình thuật dài hơn, cảnh
Phêrô chối Chúa ba lần (Mc 14,66-72). Sau đó tác giả tin mừng trở lại với bước
kế tiếp của Hội đồng, ngài tường thuật việc kết thúc phiên họp – Thượng Hội Đồng
đưa ra quyết định chính thức chuyển Chúa Giêsu lên cho Philatô phán xử: “Vừa tảng sáng, các thượng tế đã họp bàn với
các kỳ mục và kinh sư, tức là toàn thể Thượng Hội Đồng. Sau đó, họ trói Đức
Giêsu lại và giải đi nộp cho ông Philatô”(Mc 15,1). Một phiên toà mới xử án
Chúa Giêsu bắt đầu ngay trước mặt Philatô, phiên toà này xét xử theo luật Rôma
và do một viên chức Rôma chủ toạ.
6. Trước mặt Philatô
Sở dĩ có sự ăn khớp liền lạc nhau trong các phiên xét xử vì viên quan toàn quyền
Roma, thường cư ngụ ở Cêsarêa Maritima bên bờ Địa Trung Hải, đã về dinh thự của
mình ở Giêrusalem trong dịp lễ Vượt Qua, và vì người Rôma có lệ bắt đầu phiên
toà vào tảng sáng. Dĩ nhiên, một loạt các câu hỏi được đặt ra lúc này: Tại sao
có hai phiên toà? Sao cần phải có phiên toà của người Rôma khi phiên toà của
người Do Thái đã xét xử vừa xong? Ngược lại, nếu các người có thẩm quyền trong
dân Do Thái biết là cần phải có tiến trình xét xử của người Rôma, tại sao họ lại
tiến hành việc xét xử của mình trong đêm? Hơn nữa, đâu là bản chất của quyết định
chính thức của Thượng Hội Đồng? Quyết định lên án tử có là chính thức không hay
chỉ là cách giải quyết để nộp Chúa Giêsu lên trên, tức là quyết định tố cáo
ngài trước quan toàn quyền?
Cách hiểu tốt nhất tình huống này là, cùng với nhiều nhà chú giải, chúng ta nắm
bắt ý nghĩa dựa trên căn cứ của phúc âm Gioan 18,31, là vào thời người Rôma đô
hộ, họ không cho người Do thái có quyền lên án xử tử ai.[13] Tức
là, họ không còn có quyền tiến hành án tử, theo một vài chú giải họ cũng không
có quyền chính thức thông qua án tử. Nếu người Do thái lúc đó sở hữu quyền hành
quyết Chúa Giêsu theo hệ thống pháp luật của mình thì có lẽ ngài đã không bị
đóng đinh; có lẽ ngài bị ném đá, vì cách hành quyết đóng đinh trên cây thập
giá, phổ biến trong thời cổ đại và tiêu biểu của người Rôma, người Do Thái rất
hiếm khi thực hành trừ trong vài trường hợp ngoại lệ.
Các quan chức Do Thái nộp Chúa Giêsu cho Philatô cho thấy rõ ràng họ đã xem là
ngài phạm tử tội, một tội theo quan điểm của họ đáng phải xử tử. Trong trường hợp
này họ phải để vấn đề ra ngoài thẩm quyền của mình và cho phép viên toàn quyền
Rôma tra vấn tội của bị cáo qua hệ thống xét xử và kết án theo luật Rôma. Quyết
định chính thức của Thượng Hội Đồng trong đêm qua hình thành tội của Chúa Giêsu
và ra lệnh nộp ngài. Hiển nhiên là Philatô không thể thoái thác tiến trình đã
được khai triển cách này; nó rõ ràng tạo sức ép cho ông phải hành động.
Nhưng quyết định của Thượng Hội Đồng cũng có thể mang một ý nghĩa khác nữa: nhờ
vào đó các thành viên của Hội Đồng có thể biện minh cho mình về cách thức họ
trình bày những lời cáo buộc về Chúa Giêsu trước mặt quan toàn quyền Rôma. Sau
khi tiến hành thủ tục của mình để xác định tội, họ có thể nói rằng Chúa Giêsu
rõ ràng là một tội phạm đáng chết, ngay cả nếu việc kết tội ngài do Philatô có
thể là kết quả của các phương thức rất đáng ngờ và không thể tránh sai sót.
Chúng ta phải thảo luận về những phương thức đáng ngờ này được dùng trong việc
trình bày lời tố cáo lên Philatô.
Hội Đồng đã kết án Chúa Giêsu tội lộng ngôn hay, một cách chính xác, là đã xác
định sự việc ngài đã nói lộng ngôn phạm thánh. Rất có thể lời tố cáo dẫn dân đi
lầm đường lạc lối cũng đóng vai trò rất có ý nghĩa trong việc xét xử. Trong hệ
thống luật pháp của người Do Thái, cả hai tội đều là tử tội. Nhưng nếu việc tố
cáo chống lại một người Do Thái trong toà án Roma, thì cả hai tội lộng ngôn và
dẫn dân đi sai đường lối được coi là nghịch với tôn giáo của người Do Thái, và
không vị quan toà Rôma nào lên án tử một người Do Thái chỉ vì vi phạm luật nội
bộ của tôn giáo người Do Thái. Hội Đồng thấy rõ điểm này, vì vậy họ đưa ra một
chiến thuật thích hợp hơn, đó là đưa “vụ án Giêsu” ra trước người Rôma bằng một
hướng khác. Tuy không còn nói về “lộng ngôn” nhưng tội xúi dục nổi dậy vẫn còn
đó. Thượng Hội Đồng muốn biến một người quyến dụ dân chúng về tôn giáo thành một
người làm cách mạng mang tính cứu thế - chính trị. Đó là cách duy nhất để
hiểu câu hỏi mỉa mai của Philatô hỏi Chúa Giêsu: "Ông là vua dân Do Thái sao?" (Mc
15,2), và cũng chỉ cách này mới hiểu được tại sao Chúa bị hành hình dưới tấm bảng
viết: "Vua người Do Thái"(Mc 15,26).
Lời tố cáo Chúa Giêsu xưng mình là vua thiên sai (Messia) rất hữu hiệu vì suốt
thời gian chiếm đóng của người Rôma hầu như mọi phong trào thiên sai
(messianic) luôn bị nghi ngờ là cuộc khởi nghĩa quốc gia chống lại người Rôma.
“Vua Thiên sai” (Messianic king) cũng luôn được xem như đồng nghĩa với “chiến
sĩ cho tự do”, “người kích động quần chúng” – và người Rôma thường phản ứng
nhanh chóng và mạnh mẽ chống lại bất cứ những gì có mùi “nổi loạn” (seditio). Đúng là khi Chúa Giêsu bị tố
cáo trước mặt Philatô là một đấng thiên sai mang tính cách chính trị có thể -
trên bề nổi – nại vào hành vi của ngài trong đền thờ và việc ngài xưng là Đấng
Thiên Sai, nhưng trong thực tế đây là một sự bóp méo và xuyên tạc lời công bố của
Chúa Giêsu. Sau cùng, ngài đã nói rõ chống lại mọi hình thức nổi loạn (xem Mc
12,13-17), và không chấp nhận cho rằng hành vi của ngài trong đền thờ như là dấu
hiệu cho cuộc nổi dậy chính trị.
Và với lời tố cáo này, một tiến trình khác, một phiên xử về chính trị, được bắt
đầu tiến hành. Vấn đề bây giờ là “mưu phản” (perduellio). Philatô phản ứng làm sao trước việc thay đổi này? Rõ
ràng là ông có vẻ lưỡng lự. Cả bốn tác giả tin mừng để đồng ý về điểm này. Lý
do khiến ông lưỡng lự chắc chắn sẽ được nhận thấy.
Trước hết, là một sĩ quan Rôma, Philatô không thể hài lòng chấp nhận những lời
tố cáo mơ hồ. Ông chỉ ban quyền lên án tử Chúa Giêsu khi được chứng minh rõ
ràng ngài đã phạm tử tội. Ông cần chứng cứ thật rằng Chúa Giêsu đã kêu gọi cuộc
nổi dậy về chính trị hay tham gia tích cực vào một cuộc khởi nghĩa. Hiển nhiên
là những bằng cớ như vậy không có, Philatô nhanh chóng nhận ra điều này. Có vẻ
như sau cuộc giáp mặt ngắn ngủi với Chúa Giêsu ông không còn cho là nghiêm trọng
việc bị cáo là một nhà cách mạng chính trị.
Nhưng có lẽ một lý do khác đã khiến Philatô không tán thành ngay lập tức. Như
nhiều chứng từ cổ đại khác nhau để lại, ông ta là thù nghịch hơn là thân hữu với
người Do Thái. Triết gia Do Thái Philô viết trong tác phẩm Legatio ad Gaium viết “[ông không
muốn] làm gì mà những thần dân [Do Thái] của ông chấp nhận” (XXXVIII, 303).
Chúng ta có thể cho rằng khi Philatô xác định được các người có thẩm quyền
trong dân Do Thái cố gắng dùng ông để triệt hạ người Galilê mà họ thù ghét, ông
sẽ lập tức chống lại ý muốn của họ.
Như vậy có lý do để Philatô cố trả tự do cho Chúa Giêsu. Nhưng ông cũng không
cho phép mình đơn giản là đuổi những người tố cáo về và tha Chúa Giêsu ngay tại
chỗ. Lời buộc tội về cuộc nổi dậy về chính trị là quá nghiêm trọng. Theo Tin Mừng
Matthêô, Marcô, và Gioan, quan toàn quyền có lệ tha một người tù cho người Do
Thái trong dịp lễ Vượt Qua (Mt 27,15; Mc 15,6; Ga 18,39) . Có lẽ một ủy ban của
người Do Thái được chỉ định để trình bày thỉnh nguyện xin ân xá đã đến dinh
toàn quyền từ sáng sớm. Tuy nhiên, họ chỉ xuất hiện sau đó (Mc 15,8). Dù sao
thì người được đề cử đã được chọn lựa trước đó từ lâu, đó là Baraba, người đang
ở tù với một số người khác vì khởi đầu một “cuộc khởi nghĩa” và đang bị xét xử
về tội giết người. Cuộc khởi nghĩa này có lẽ vừa mới xảy ra và đã ám sát hay tấn
công trực tiếp vào người Rôma. Cách mô tả của Marcô (x. 15,7) cho rằng Baraba
không phải là thủ lãnh của nhóm nhưng chỉ là đồng lõa, hay rất có thể chỉ là một
trong những người bị tố cáo là đồng lõa. Đoàn đại biểu có thể chủ yếu là những
người thân và bạn bè của Baraba.
Philatô phải biết trước là năm nay họ sẽ xin ông tha cho Baraba, người bị giam
vì tội phản loạn, trong dịp lễ Vượt Qua. Có lẽ là ngây thơ khi cho rằng trong
sáng thứ Sáu đó Philatô chưa biết mục đích cụ thể của đoàn đại biểu. Có thể ông
đã thấy trước nguy cơ to lớn khi phóng thích một người bị bắt vì hành vi khủng
bố, là nguy cơ chống lại những quyền lợi của ông cũng như của những người ở
Rôma. Mặc khác, một tù nhân được phóng thích trong lễ Vượt Qua - một tục lệ được
các tin mừng xác nhận - là đáng ngờ. Trong trạng huống này, một cách giải quyết
lý tưởng được đưa ra cho Philatô là phóng thích Chúa Giêsu. Thoạt nhìn giải
pháp này xem ra thích hợp với những mục tiêu của ông về mọi khía cạnh: bằng
cách này, ông có thể thoát khỏi “vụ án Giêsu” gây khó chịu, đồng thời tránh khỏi
phóng thích Baraba.
Các chi tiết về tính toán, cân nhắc của viên quan toàn quyền không được thuật lại
tiếp, nhưng chúng ta có đủ cơ sở để giả định rằng những nỗ lực của ông với những
suy tính kế hoạch để phóng thích Chúa Giêsu có thể mang lại kết quả là ông có
thể tránh không phóng thích tên phản loạn Baraba, là điều nguy hiểm hơn cho ông
rất nhiều.
Nhưng rồi chính tính toán này lại là một sự lượng định sai lầm với những hậu quả
nghiêm trọng. Philatô lượng định thấp về sự việc con số đông những người chống
đối ông lại ủng hộ cho Baraba, và ông có lẽ cũng đánh giá thấp hoạt động tích cực
của các viên chức Do Thái để theo đuổi việc hành quyết Chúa Giêsu. Nhưng trên hết,
khi ông đề nghị tha Chúa Giêsu thay vì Baraba, ông ta đã xác định tội của Chúa
Giêsu cho công chúng. Mưu tính của ông đưa ông vào tình huống chính ông phải chịu
sức ép.
Rõ ràng là tình huống mới này bị các kẻ thù của Chúa Giêsu nhận thấy và nắm bắt.
Vị quan toàn quyền rất nhanh chóng phải đối diện với tiếng la hét của công
chúng như bài ca chống lại Chúa Giêsu: "Đóng đinh nó vào thập giá! Đóng đinh nó vào thập giá!"(Mc
15,13-14) Tình huống thay đổi cách bất ngờ. Philatô, với một kế hoạch khôn
ngoan, đã để cho quyết định của toà án không còn trong tay mình. Ông không quyết
định bị cáo có tội hay vô tội cách đơn giản như vị thẩm phán không thiên vị. Bằng
cách cố làm cho một người vô tội thành đối tượng của sự tha thứ ông đã nối kết
hai mức độ xét xử và chính trị chung với nhau.
Vì thế không ngạc nhiên là kết cục, dưới những áp lực gia tăng, ông đã đưa ra một
quyết định đơn thuần ở mức độ chính trị - và bây giờ là chống lại Chúa Giêsu.
Ông từ bỏ mục tiêu ban đầu bảo đảm việc hành quyết Baraba để tha Chúa Giêsu, và
ông đã lên án tử cho ngài trên thập giá như một người phản bội và phản loạn về
chính trị. Có lẽ ông đã công bố bằng công thức như thường dùng: Ibis in crucem (ngươi phải đi đến
thập giá).
7. Hành quyết
Đối với Chúa Giêsu, khi toan tính của Phongxiô Philatô thất bại có nghĩa là
ngài phải chết, và chết bằng một cách hành hình khủng khiếp nhất mà con người
có thể tạo ra để tra tấn người khác. Đối với người Rôma, chết trên thập giá là
quá khủng khiếp và ô nhục nên chỉ dành cho người nô lệ hay không phải là công
dân Rôma. Cicerô viết: “Người hành hình, và việc che phủ đầu, và chỉ đơn thuần
tên của giá treo cổ, phải cất đi cho xa không chỉ khỏi những công dân Rôma –
nhưng còn khỏi những suy nghĩ, khỏi mắt, khỏi tai của họ” (Pro Rabirio 16). Nhưng cả trong những bản án dành cho người nô
lệ hay ở các tỉnh, hành hình thập giá thường chỉ dành cho những tội ác nghiêm
trọng như giết người, cướp đền thờ, mưu phản, và nổi loạn.
Theo phong tục Rôma, họ thường đánh đòn trước mỗi cuộc hành quyết trên thập
giá. Tin Mừng Marcô và Matthêô có tường thuật cảnh này (Mc 15,15; Mt 27,26). Đối
với họ, việc đánh đòn Chúa Giêsu là một hình phạt thêm vào trước khi hành hình
trên thập giá và như một phần của tiến trình hành hình.[14] Như
vậy trước khi thực sự bị hành quyết Chúa Giêsu đã chịu một hình phạt kinh khủng
thường làm cho chết. Việc đánh đòn của người Rôma rất nguy hiểm vì không giới hạn
số lần đánh và roi còn được gắn thêm những viên tròn bằng xương hay kim loại.
Điều đó cho chúng ta hiểu thế nào là việc “Philatô truyền đánh đòn Chúa Giêsu”.
Thêm vào đó, khi Chúa Giêsu được trao cho các binh lính Roma hành hình, họ đã
đùa nghịch và chế nhạo Chúa. Họ khoát áo cho ngài như vua, bắt chước việc long
trọng thần phục bái chào, sấp mặt trước mặt Chúa. Họ đánh Chúa và la lên:
"Vạn tuế đức vua dân Do Thái! "
trong khi tát mạnh vào mặt ngài (Mc 15,16-20). Kết quả của trận đòn và những
hành hạ kèm theo, Chúa Giêsu không thể vác thập giá đến nơi hành hình. Vì thế
quân lính bắt ông Simôn thành Xyrênê, một người từ ngoài đồng về và tình cờ đi
ngang qua con đường dẫn tới nơi hành hình, mang đỡ thập giá cho Chúa (Mc
15,21).
Tuy nhiên, chúng ta không nên tưởng tượng việc vác thập giá như nghệ thuật Kitô
giáo thường diễn tả. Trong các cuộc hành hình, người bị kết án không phải vác
nguyên cây thập giá, nhưng chỉ vác thanh ngang. Thanh dọc thường được chôn tạm
trước dưới đất. Khi đến nơi hành hình, người bị kết án bị đặt nằm trên đất, hai
tay dang thẳng ra và bị đóng đinh vào thanh ngang, sau đó thanh ngang được đưa
lên gắn vào thanh dọc đã được chôn trước. Thanh ngang được cột vào đỉnh của
thanh dọc và lúc đó chân của người bị kết án mới bị đóng đinh. Nên Chúa Giêsu
và Simon thành Xyrênê không vác nguyên cây thập giá, nhưng chỉ vác thanh ngang.
Việc Chúa không vác nổi chỉ một thanh gỗ này chứng tỏ ngài đã hết sức sau khi bị
đánh đòn.
Trên đường đến nơi hành hình, một người mang tấm bảng án (titulus) ghi lý do bị hành quyết đi trước tội nhân. Titulus của Chúa Giêsu ghi: “Giêsu
Nadarét, Vua dân Do Thái” (Ga 19,19; x. Mc 15,26). Philatô muốn tấm bảng ghi:
“Vua dân Do thái” chứ không phải “người này tự xưng là Vua dân Do Thái” được hiểu
như là lời chế nhạo thâm độc của ông đối với dân Do Thái. Rõ ràng là sau khi phải
thua thiệt một cách nào đó khi đối đầu với Thượng Hội Đồng, Philatô muốn ít ra
bằng cách này trả thù họ. Nhưng cùng lúc những lời trên titulus cũng là lời mỉa mai đầy ác
ý chống lại Chúa Giêsu: các binh lính Rôma đã chế giễu nhạo cười ngài, bây giờ
việc nhạo báng tiếp tục.
Cũng nên lưu ý là việc Chúa Giêsu bị đóng đinh giữa hai người phản loạn vẫn được
xem như một phần của biểu tượng cho việc nhạo báng này. Một vị vua không thể xuất
hiện long trọng trước công chúng mà không có “triều thần” của mình. “Triều thần”
được cẩn thận xếp “bên phải, bên trái” (Mc 15,27) Chúa Giêsu là hai tên tội phạm,
và Chúa Giêsu ngự trên ngai ở giữa. Hai “tên trộm cắp” có lẽ là những tên khủng
bố hay đấu tranh giành tự do đã bị tống giam cùng với Baraba. Dù tin mừng không
nói rõ như thế, nhưng chúng ta phải thừa nhận là Philatô cũng đã kết án hai tên
khủng bố này cùng sáng thứ Sáu. Như thế quan toàn quyền không phải tốn nhiều thời
gian cho việc kết án Chúa Giêsu; ông rút ngắn cuộc xử án của mình.
Ngọn đồi nơi Chúa chịu hành quyết có tên là “Golgotha”, được dịch là “Sọ” (Mc 15,22), không phải vì ở đó có nhiều
sọ của những người bị hành quyết trước đây – là điều không thể nghĩ tới theo luật
thanh sạch của người Do thái – nhưng là vì ngọn đồi có hình dáng của cái sọ.
Nhà thờ Mồ Thánh hiện nay được xây trên nơi Chúa chết. Như các cuộc thăm dò khu
vực này vào năm 1961 cho thấy, vào thời Chúa Giêsu ở đó có một mỏ đá bỏ hoang từ
thời các vua, và phía tây của mỏ đá có một số hầm mộ được đục trong đá. Về phía
đông, hướng về thành đô, còn di tích của một vách đá nhô ra, đây là “đồi sọ”. Ở
giữa có những khu vườn (x. Ga 19,41; 20,15). Điều đó cho chúng ta tưởng tượng
cách rõ ràng là đồi Gogotha và những khu vực chung quanh vào thời đó nằm ở bên
ngoài tường thành. Những cuộc khai quật dưới nhà thờ Đấng Cứu Thế cho chúng ta
thấy rõ tường thành đi theo lối nào. Chỉ có một thung lũng nhỏ giữa tường thành
Giêrusalem và đồi Golgotha. Chúa Giêsu vác thánh giá từ dinh tổng trấn tới bờ
tường thành, và từ đó đến nơi hành hình, là không xa lắm, có lẽ đó là con đường
ngắn nhất được chọn.
Theo Tin Mừng Marcô, đội hành quyết đến đồi Golgotha trước trưa; chừng giờ thứ
ba - tức khoảng 9 giờ - và họ đóng đinh đinh Chúa ở đó. Các tin mừng không thuật
lại việc đóng đinh, với những đau khổ cùng cực và đáng sợ của nó. Những cảm xúc
tế nhị của giáo hội tiên khởi không cho phép làm điều đó. Marcô viết rất chuẩn
mực và rất ngắn: “Chúng đóng đinh Người
vào thập giá” (15,24). Ngay trước đó họ trao cho ngài rượu pha mộc dược
(15,23). Theo tập tục Do Thái, đây là thức uống gây tê, thường được cho tội
nhân uống trước khi hành quyết.[15] Rượu
được pha với những thảo dược mạnh để giúp cho tội nhân chịu đựng những
đau đớn khi hành hình. Nhưng Chúa Giêsu từ chối uống rượu đó.
Việc này khác với sự việc sau đó khi Chúa đã bị treo trên thập giá và đang chiến
đấu với cái chết. Lúc đó một người đi qua đó cố gắng cho ngài uống bằng cách thấm
miếng bọt biển gắn trên cây sào vào giấm và đưa lên miệng ngài (Mc 15,36). Chúng
ta không biết người đó làm việc này vì thương xót Chúa Giêsu hay chỉ muốn cho
ngài bớt khát để kéo dài nỗi đau của cái chết. Nhưng sự việc này cho thấy Chúa
bị treo cao trên thập giá, cây cột đứng phải cao và cứng và được chôn chặt xuống
đất để dùng lâu về sau.
Sau khi Chúa Giêsu bị đóng đinh, quân lính chia nhau áo ngài (Mc 15,24). Một
quy luật bất thành văn cho đội hành quyết là họ được phép lấy những gì mà người
bị hành hình mang trên người trong lúc hành quyết. Trong trường hợp của Chúa
Giêsu là áo ngoài, áo trong, thắt lưng, dép, và có lẽ cả khăn đội đầu của ngài.
Trong khi bị treo trên thập giá, Chúa Giêsu bị chế nhạo bởi những người qua đường
– vì không xa tường thành – và bởi những người hiếu kỳ tụ tập nơi hành quyết.
Cũng như ở nơi xử án trong dinh toàn quyền, lời nhạo báng chủ yếu về việc xưng
mình là Đấng Thiên Sai, được tóm gọn trong tước hiệu được gi trên bản án: “Vua
dân Do thái”. Vì thế, có người chế giễu: “Ông
Kitô vua Israel, cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, để chúng ta thấy và tin"
(15,32). Sở dĩ có những lời mỉa mai chế giễu đó vì việc Chúa bị đóng đinh
trên thập giá là bằng chứng rõ ràng bác bỏ những gì ngài khẳng định. Đấng thiên
sai thực sự không bao giờ bị treo trên thập giá và chịu đau khổ; ngài phải tiêu
diệt mọi kẻ đối nghịch.
Theo Marcô, Chúa Giêsu cầu nguyện lớn tiếng phần khởi đầu của thánh vịnh 22 vào
giờ thứ chín (khoảng 3 giờ chiều): "Lạy
Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? ". Một số
người đứng gần đó hiểu lầm là ngài gọi Êlia. Có lẽ thời đó đã có trường hợp
Êlia đã đến giúp trong giờ chết. Vì Chúa kêu lên phần đầu của thánh vịnh 22 bằng
tiếng Aram (“Eloi, Eloi”), và có lẽ tiếng kêu của ngài bị trại đi; và những lời
chế giễu tiếp tục.
Rất có thể Chúa không chỉ cầu nguyện với phần mở đầu của thánh vịnh 22. Ngài phải
cầu nguyện mọi phần trong cả thánh vịnh như là lời cầu nguyện trong lúc sinh
thì, nhưng vì ngài lịm dần, và nên chỉ nghe vài tiếng đứt quảng. Ý kiến của một
số tác giả cho rằng tiếng kêu: "Lạy
Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? " nói lên sự
tuyệt vọng tột cùng và tận cùng là đi ngược lại với việc cầu nguyện trong Cựu Ước.[16] Thánh
vịnh 22 không chỉ là những lời kêu van tín thác (“Chào đời con được dâng cho
Chúa, được Ngài là Chúa tự sơ sinh”, c.11), kết thúc của thánh vịnh còn nói đến
bữa tiệc của các dân trong nước Chúa (27-29); khởi đầu của thánh vịnh tự nó
không phải là lời kêu van trong tuyệt vọng; nhưng là một lời than thở, và trong
các thánh vịnh nó hoàn toàn khác với tuyệt vọng. Thánh vịnh 22 bao gồm cả hai:
Chúa yên lặng và không đáp lời, sự ẩn giấu kinh khiếp của Chúa và việc tỏ dung
nhan của ngài (c.24); sự cô đơn tột cùng của người đang cầu nguyện và ân huệ mới
của cộng đoàn.
Theo Marcô, Chúa Giêsu chết vào giờ thứ chín, tức khoảng 3 giờ chiều, sau khi
kêu một tiếng lớn (15,34.37). Cũng đáng ngạc nhiên là ngài chết chỉ sau sáu giờ
bị đóng đinh, vì thường người bị đóng đinh phải vật vã lâu hơn. Sự khủng khiếp
và vô nhân đạo của lối hành hình trên thập giá là ở chỗ việc đóng đinh gây nên
một cái chết dở sống dở chết lập đi lập lại và kéo dài thật lâu. Nếu muốn
cho người bị đóng đinh chết nhanh hơn, họ đập gãy ống chân, như thế sức nặng của
thân thể dồn cả vào hai cánh tay khiến người bị đóng đinh ngạt thở nhanh hơn.
Cho đến nay chỉ mới tìm thấy một hài cốt của người bị đóng đinh trong thời cổ đại
tại Giêrusalem năm 1968, với một cây đinh rỉ sét đóng qua cả hai bàn chân cùng
lúc, cả hai xương ống quyển bị đập gãy cùng chỗ do bị đập mạnh. Khám phá này
giúp các nhà khảo cổ xác định tục lệ crucifragium,
đập gãy chân, như Tin Mừng Gioan đề cập đến (Ga 19,32). Theo Tin Mừng Gioan,
cái chết của hai người cùng chịu đóng đinh với Chúa Giêsu đến nhanh do bị đánh
gãy xương chân, nhưng chân của Chúa không bị đánh gãy vì ngài đã chết.
Cái chết nhanh chóng của ngài, chỉ sau vài giờ, là do việc bị đánh đòn dữ dội
và bị mất máu nhiều.
8. Chôn táng
Chúng ta biết rằng vào thời cổ đại người bị đóng đinh bị từ chối không cho chôn
cất, vì thế chúng ta hiểu vì sao ông Giuse Arimathia đến gặp Philatô để xin.
Ông Giuse, một trong những người có cảm tình với Chúa Giêsu, cũng mua khăn liệm
và trông coi việc Chúa được cất khỏi thập giá. Rồi Chúa được bọc trong khăn liệm
mới và đặt trong mồ. Những người phụ nữ trong số những người đi theo Chúa cũng
có mặt.
Chúng ta có thể vẽ lên một hình ảnh sống động về ngôi mộ của Chúa dựa trên những
khám phá khảo cổ về thời đó ở Giêrusalem song song với những tường thuật của
các tin mừng. Nó nằm gần đồi Golgotha(Ga 19,41); nó được đục trong vỉa đá chạy
qua hầm mỏ bị bỏ hoang ở phía Tây Golgotha; nó nằm trong một khu vườn; đó là
hốc đá trong ngôi mộ với những dãy kệ đá dài bên hông để đặt xác chết; nó
có lối vào tương đối thấp, người muốn vào phải cúi đầu và được đóng hay mở bằng
viên đá có thể lăn qua lại (Mc 15,46); đó là ngôi mộ mới chưa từng chôn táng ai
(Ga 19,41). Chúng ta chắc chắn rằng xác của Chúa không bị để trên thập giá hay
ném vào mộ tập thể dành cho tội nhân; xác ngài được đặt trong ngôi mộ gia đình
có nơi chốn được biết đến ở Giêrusalem. Vào sáng ngày thứ nhất trong tuần sau
ngày Sabát các phụ nữ đến viếng ngôi mộ này.
9. Các kế hoạch
Các sự kiện của cuộc khổ nạn được dồn vào chỉ vài giờ: chiến đấu trong cầu nguyện,
bị bắt, tra vấn trước mặt Anna, các phiên xử án của Hội đồng, nộp lên Philatô,
đánh đòn, chế nhạo, hành quyết, chôn táng. Tất cả đều diễn ra trong vòng dưới
24 giờ. Những người muốn Chúa chết biết tại sao họ phải hành động nhanh chóng
như vậy, họ biết phải làm gì. Việc họ làm là những kế hoạch của những người đối
nghịch với Chúa. Nội bộ Hội Đồng cho rằng Chúa đáng chết vì mê hoặc dân lầm lạc
và lộng ngôn. Nhưng trước mặt Philatô họ làm cho người quyến dụ dân về tôn giáo
thành một tên phản loạn về chính trị, và lời tuyên xưng của Chúa Giêsu về thẩm
quyền của mình thành sự công nhận mình là đấng thiên sai với mục tiêu chính trị.
Chính kế hoạch xuyên tạc hoàn toàn những khẳng định chân thật của Chúa đã đưa
ngài đến thập giá.
Nhưng Philatô cũng theo những kế hoạch của mình. Ông tránh việc tha Baraba
trong dịp lễ Vượt Qua, và Chúa Giêsu thành phương tiện cho mục tiêu của ông.
Philatô vì quá lo thi hành kế hoạch của mình nên ông không để ý vì đề nghị tha
Chúa thay vì Baraba vô tình ông lại xác định rằng Chúa có tội và vì thế làm mất
đi quyền tài phán của mình. Chiến lược chính trị của Philatô cuối cùng cũng
thành cái chết cho Chúa. Nhưng Philatô, dù cho quyền lực to lớn hơn, lại là một
hình tượng yếu hơn trong trò chơi đối đầu quyền lực này. Thượng Hội Đồng – hoàn
toàn không giống như Philatô - không bao giờ rời bỏ mục tiêu và theo đuổi nó
không chút sai sót nào. Mục tiêu là đưa Chúa Giêsu lên thập giá.
Nhưng chúng ta có thể hiểu hơn về mục tiêu không sai sót của nhóm quý tộc đền
thờ tại Giêrusalem khi tìm cách đóng đinh Chúa Giêsu nếu xét đến bối cảnh trong
sách Đệ nhị luật 21,22-23, viết về việc chôn cất những người bị hành hình. Nó
hàm ý việc sau khi hành quyết họ sẽ bị bêu xác trên trụ (như để cảnh cáo). Luật
trong sách Đệ nhị luật 21,22-23 bảo rằng xác của những người bị treo như thế không
được để qua đêm, nhưng phải được chôn trong ngày. Trong văn mạch đó còn nói “ai
(chết) treo trên cây là bị Chúa nguyền rủa”. Do Thái giáo thời tiền-Kitô giáo
đã áp dụng câu này của sách Luật cho những ai bị đóng đinh. Trong “Cuộn Đền Thờ”
được tìm thấy ở Qumran cho thấy câu: “ai (chết) treo trên cây là bị Chúa nguyền
rủa” dành cho việc đóng đinh những người Do Thái phản quốc theo ngoại bang và
đem điều dữ đến cho dân.[17] Vì
thế điều đó xem ra lôi cuốn Hội Đồng tìm mọi cách cho Chúa Giêsu bị đóng đinh,
với sự trợ giúp của người Rôma đô hộ, như là người dẫn dân đi lầm đường lạc lối
và làm cho họ ra hư hỏng.
Từ quan điểm này, lễ Vượt Qua với đông đúc người hành hương là cản trở gây bất
tiện cho các cảnh vệ đền thờ bắt Chúa Giêsu, nhưng nhìn một cách tích cực đây
là cơ hội để tỏ cho dân Israel đang quy tụ thấy Chúa Giêsu như là một người bị
Thiên Chúa nguyền rủa. Vì một khi ngài bị treo trên thập giá, hiển nhiên là
Thiên Chúa không thể nào ở với loại người như thế.
Tất cả những chiến thuật này cho thấy Chúa Giêsu bị rơi giữa hai cột mốc của
quyền lực mạnh mẽ hơn ngài nhiều, quyền lực của những người (như Philatô) không
muốn làm gì hết với vấn nạn về sự thật hay của những người (như Thượng Hội Đồng)
thấy nhiệm vụ tôn giáo của họ cần phải tỏ cho mọi người biết Chúa Giêsu và loại
bỏ ngài. Nhưng họ có thực sự mạnh mẽ hơn ngài? Giới quý tộc đền thờ Giêrusalem
là những người đã kết án ngài đã biến mất trong dòng lịch sử, Chúa Giêsu thì
không. Ngài khai mào một trào lưu không thể tưởng tượng được. Ngài đã thay đổi
thế giới và đang tiếp tục thay đổi. Tất cả những ai cố gắng loại bỏ ngài đã thất
bại. Các dự phóng tiếp tục đi theo chiều ngược lại.
10. Vấn nạn về tội
Những ai muốn tái tạo lại những gì xảy ra trong ngày cuối cùng của Chúa Giêsu
không thể tránh vấn nạn về tội. Họ không thể hài lòng chú giải cách lãnh đạm và
lạnh lùng những gì xảy ra ở Giêrusalem trong ngày đó. Họ phải nghĩ về tội của Hội
Đồng và của Philatô cũng như tội của tất cả những người gặp gỡ Chúa Giêsu, từ
khi ngài xuất hiện ở Galilê, với việc không tin, nghi ngờ, hay dửng dưng. Và họ
phải suy tư về tội của các môn đệ của Chúa, những người đã bỏ Chúa đang trong
cơn hoạn nạn mà trốn mất.
Chúng ta không có ý bàn cãi về một căn nguyên bài Do Thái, và gieo thù ghét cho
người Do Thái. Đáng buồn là có những thù ghét như thế trong Kitô giáo, với một
con số đáng sợ trong suốt nhiều thế kỷ. Nhưng không thể không nói về bất cứ loại
tội tập thể nào về phần của Israel, và nếu có như thế đi nữa thì sự đáp trả của
Kitô hữu vẫn phải hoàn toàn khác.
Trong khi suy niệm về cái chết của Chúa Giêsu chúng ta phải từ bỏ việc đơn giản
hoá sự việc như các vở tuồng thương khó ngày xưa: đây là Đấng Thánh, kia là bọn
tội lỗi! Thay vì như thế chúng ta phải giả định là có nhiều người trong những
người chống đối Chúa Giêsu không muốn gì khác hơn là làm theo lương tâm của
mình. Sự sâu xa của cuộc xung đột với Chúa Giêsu không chỉ đơn thuần với sự kiện
là công chúng ở đây hành động chống lại điều tốt - mặc dầu, dĩ nhiên người ta
luôn nghĩ có thể là như thế. Có một thứ thèm khát sự dữ, thật ngây thơ khi nghĩ
rằng mọi người đều muốn sự thật và điều tốt. Trong mọi trường hợp, thường họ
thích không phải sự dữ cũng không phải điều tốt nhưng chỉ đơn thuần là sự thuận
tiện cho mình. Trở lại với vấn đề, chiều kích sâu xa thực sự của sự xung đột chỉ
nổi lên nếu chúng ta thấy rằng ở đây dân chúng tìm cách bênh vực danh dự của
Thiên Chúa hay của Lề Luật của ngài, và họ chống lại một cá nhân mà theo ý họ
là lộng ngôn chống lại thanh danh của Chúa và phá hủy lề luật của ngài.
Xem ra Thượng Hội Đồng nghĩ họ phải bảo vệ đền thờ, Lề Luật (Torah), và dân
chúng chống lại Chúa Giêsu. Nhưng Chúa Giêsu không chất vấn về đền thờ, Lề Luật,
hay Dân Chúa. Ngài muốn quy tụ Israel lại để cuối cùng họ trở nên như những gì
Chúa muốn. Và ngài không phá hủy Lề Luật, nhưng giải thích chúng cách triệt để
theo như ý muốn của Thiên Chúa. Ngài muốn đền thờ trở nên một nơi như các ngôn
sứ mong ước: một nơi thờ phượng thật sự và cả ở sân ngoài dành cho họ dân ngoại
cũng thờ phượng. Tất nhiên, đàng sau đó là khẳng định việc thành toàn Lề Luật
đã đến nơi chính con người của ngài và nơi ngài sống Nước Thiên Chúa với những
người đi theo ngài “ở đây còn lớn hơn Đền Thờ nữa” (Mt 12,6) là đây. Israel
cùng với Thượng Hội Đồng phải đối mặt với lời khẳng định mạnh mẽ này.
Đây là điều khiến cho vấn nạn về tội của những người đối nghịch với Chúa Giêsu
trở nên phức tạp hơn nhiều. Vì nếu tất cả những điều này là thực, thì đó chính
là cuộc xung đột mà tất cả chúng ta đều phải đương đầu mà trong đó chúng ta nhận
thấy mình đều có tội: chúng ta cũng không ngớt nghe những khẳng định thật sự của
Chúa, những bằng chứng đầy đủ nơi Chúa Giêsu, nhưng chúng ta che đậy chúng bằng
những ý kiến, thói quen, hay sự thuận tiện của chúng ta và đẩy nó ra ngoài thế
giới. Vì thế, việc tra cứu kỹ lưỡng lại cuộc thương khó của Chúa Giêsu không phải
để giảm bớt hay làm nhẹ đi tội của những người đối nghịch với Chúa Giêsu. Trái
lại, là để khám phá những chiều kích sâu xa của tội này, vì đó là cách chúng ta
sẽ khám phá ra tội của tất cả chúng ta.
Nguồn: gpquinhon.org
[2] Xem Gerhard
Lohfink, Jesus and the Message of
the New Testament, ed. K.C. Hanson, Minneapolis: Fortress, 2002, tt. 39-74.
[5] Xem Trong
Cựu Ước, nỗi đau khổ của Giêrêmia (e.g., Gr 20,7-18). Hay như thánh Phaolô trần
tình về mình trong Tân Ước (e.g., 2 Cor 4,7-18)
[8] Xem Joseph
Blinzer, The Trial of Jesus and
Roman Proceeding against Jesus Christ Described and Assessed from the Oldest
Account, Westminster, MD: Newman Press 1959, 117-121; và 86-89.
[11] Những ý tưởng
cho rằng Chúa Giêsu đã không dùng tước vị Con Người là thiếu nền tảng. Hầu như
tước vị này không có mặt ở bất cứ nơi nào trong Tân Ước trừ nơi miệng Chúa
Giêsu. Một vài trường phái Kitô-học không lý giải về tước vị này.
[14] Trong
trình thuật của Tin Mừng Thứ Tư, việc Chúa chịu đánh đòn xảy ra trước khi bị
lên án tử (Ga 19,1; x, Lc 23,16). Trường hợp này có thể là nỗ lực cuối cùng của
Philatô để khỏi phải lên án tử Chúa Giêsu
[15] X. b.Sanh. 43a: “Khi một người bị dẫn đến
nơi hành quyết, phải trao cho một ly rượu có pha hạt nhũ hương, để cho các giác
quan bị tê, vì có lời chép rằng, hãy cho thức uống mạnh để hắn sẵn sàng chết,
và rượu vào trong sự cay đắng của linh hồn” (Sanhedrin, trans. Jacob Schachter – Harry Freedman,
ed. Isidore Epstein, London: Soncino, 1987.
[16] X. Hengel
–Schewemer, Jesus und das Judentum,
617; Schalom ben Chorin, Brother
Jesus: The Nazarene through Jewish Eyes, Atlanta: University of Georgia
Press, 2001, 184
[17] 11QTemple 64, 6-10.
Xem Peter Stuhlmacher, Biblische
Theologie des Neuen Testaments 1, Gottingen: Vandenhoeck &
Ruprecht, 1992, 155-156.
- Hai lời hứa của Chúa Kitô ( 31/05/2023)
- Mười cách để nhận biết Đức Maria là Mẹ của chúng ta ( 30/05/2023)
- Karuna và Agape: Lòng từ bi và Tình bác ái ( 29/05/2023)
- Để lớn lên trong sự thánh thiện ( 25/05/2023)
- Đấng An Ủi và những người biết an ủi ( 22/05/2023)
- Năm quy tắc đơn giản để sống ý nghĩa mỗi ngày ( 21/05/2023)
- Yếu đuối thành sức mạnh ( 20/05/2023)
- Để truyền đạt sự thật hiệu quả hơn trong tình yêu thương ( 18/05/2023)
- Lời cuối trong Tin Mừng thánh Mátthêu ( 17/05/2023)
- Câu chuyện đầu tuần: Nói bằng trái tim ( 15/05/2023)